1. Đặc điểm, nguyên nhân gây bệnh
- Bệnh Viêm da nổi cục là bệnh truyền nhiễm do một loại vi rút thuộc họ Poxviridae gây ra trên trâu, bò (bệnh này còn được gọi là bệnh Da sần trên trâu, bò) và cùng chi với vi rút gây bệnh Đậu trên dê, cừu. Vi rút này không lây nhiễm và gây bệnh trên người.
- Bệnh viêm da nổi cục thường phát sinh mạnh vào giai đoạn thời tiết nóng ẩm, mưa xen kẽ, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm, khi côn trùng truyền bệnh phát triển mạnh.
- Đường truyền lây chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve, mòng; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh, sử dụng chung máng ăn, uống, khu vực cho ăn, sữa, tinh dịch và qua tiếp xúc trực tiếp.
- Một số yếu tố làm tăng nguy cơ dịch bệnh gồm: Chuồng trại ẩm thấp, chăn thả gia súc tự do không kiểm soát, mua bán vận chuyển gia súc không được kiểm dịch, gia súc không được tiêm phòng đầy đủ
- Vi rút nhạy cảm với môi trường pH kiềm hoặc axít; có thể tồn tại ở môi trường pH = 6,6 - 8,6 trong 5 ngày ở nhiệt độ 370C; trong các nốt da hoại tử trên 33 ngày, trong các lớp vảy khô lên đến 35 ngày và ít nhất 18 ngày trong da phơi khô.và có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 650C trong 30 phút, 550C trong 2 giờ…; vi rút nhạy cảm với ánh sáng mặt trời và chất tẩy rửa có chứa dung môi lipid, nhưng trong điều kiện môi trường tối và ẩm ướt vi rút có thể tồn tại trong nhiều tháng.
2. Triệu chứng, bệnh tích
Trâu, bò mắc bệnh thường có những dấu hiệu dưới đây:
- Sốt cao, có thể trên 41°C, bỏ ăn, suy nhược và gầy yếu.
- Giảm năng suất sữa rõ rệt ở gia súc đang cho con bú;
- Viêm mũi, viêm kết mạc và tiết nhiều nước bọt;
- Sưng hạch bạch huyết bề mặt
- Hình thành các nốt sần có đường kính từ 2 đến 5 cm, đặc biệt là ở da đầu, cổ, chân, bầu vú,… trong vòng 48 giờ sau khi bắt đầu phản ứng sốt. Các nốt sần này có hình tròn, chắc và nhô cao trên da...
- Các nốt sần lớn có thể bị hoại tử và cuối cùng là xơ hóa và tồn tại trong vài tháng; để lại các vết sẹo có thể tồn tại vĩnh viễn.
- Các mụn nước, vết hoại tử và vết loét có thể xuất hiện ở màng nhầy của miệng và đường tiêu hóa cũng như trong khí quản và phổi.
- Chân và các bộ phận vùng bụng khác của cơ thể như bao da, ức, bìu và âm hộ có thể bị tiết dịch, khiến con vật không muốn di chuyển.
- Bò đực có thể bị vô sinh vĩnh viễn hoặc tạm thời; Bò mang thai có thể sảy thai và động dục trong vài tháng.
3. Biện pháp phòng chống bệnh
- Tổ chức thống kê toàn bộ các hộ chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn.
- Người chăn nuôi chủ động theo dõi, kịp thời phát hiện các trường hợp trâu, bò có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh, báo cáo chính quyền, cơ quan thú y để triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; không bán chạy giết mổ vận chuyển gia súc ra khỏi khu chăn nuôi.
- Chỉ nhập, tiếp nhận trâu, bò rõ nguồn gốc, đã qua kiểm dịch theo quy định.
- Thực hiện tiêm đầy đủ vắc xin phòng bệnh viêm da nổi cục cho cho trâu, bò.
- Tổ chức cách ly toàn bộ trâu, bò chưa có biểu hiện của bệnh Viêm da nổi cục; nuôi nhốt trâu, bò tại các khu vực có trâu, bò mắc bệnh, nghi mắc bệnh.
- Tổng vệ sinh, phun thuốc sát trùng, thuốc diệt côn trùng, ruồi, muỗi, ve, mòng liên tục trong vòng 03 tuần tại các hộ chăn nuôi có trâu, bò có biểu hiện bị bệnh, nghi bị bệnh; đồng thời tổng vệ sinh, phun thuốc sát trùng toàn bộ các vùng có nguy cơ cao, xung quanh hộ chăn nuôi có trâu, bò bị bệnh.
- Khoanh vùng dịch và lập chốt tạm thời để kiểm soát việc vận chuyển trâu, bò ra, vào các xã có dịch; trường hợp cần thiết thành lập đội kiểm soát lưu động để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các trường hợp cố tình vận chuyển trâu, bò ra, vào các xã có dịch…
- Thực hiện các biện pháp kỹ thuật trong phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục theo hướng dẫn của cơ quan Thú y.
PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ THAM KHẢO
1. Điều trị chống bội nhiễm và bệnh mắc ghép Các nốt viêm da sau khi vỡ rất dễ bị nhiễm khuẩn kế phát, gây viêm mủ, hoại tử, viêm phổi, viêm khớp và nhiều biến chứng khác. Vì vậy cần sử dụng kháng sinh phổ rộng để phòng và điều trị nhiễm khuẩn kế phát. Đối với gia súc nghi mắc hoặc mắc ghép bệnh ký sinh trùng đường máu, các bệnh truyền nhiễm khác hoặc bệnh nội khoa khác, việc điều trị phải căn cứ vào kết quả khám lâm sàng, chẩn đoán và thực hiện theo phác đồ điều trị của bệnh mắc ghép đó. Có thể tham khảo sử dụng một trong các thuốc sau để điều trị nhiễm khuẩn kế phát:
- CEF-KE-SAL: Điều trị nhiễm khuẩn kế phát, viêm da, viêm nốt loét và các biến chứng do vi khuẩn.
- Doctor CEF-CAFEAMIN: Điều trị nhiễm khuẩn kế phát, hỗ trợ điều trị các trường hợp viêm, nhiễm khuẩn theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Penstrep-400: Điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn kế phát do vi khuẩn nhạy cảm theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Lưu ý: Chỉ lựa chọn một trong các thuốc nêu trên hoặc thuốc thú y khác có cùng hoạt chất hoặc cùng công dụng đã được phép lưu hành tại Việt Nam để điều trị; việc lựa chọn, phối hợp và sử dụng thuốc phải phù hợp với tình trạng lâm sàng của gia súc, tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất và chỉ định của người hành nghề thú y.
2. Điều trị chống viêm, hạ sốt và giảm phù nề
Đối với gia súc sốt cao, đau nhiều, phù nề hoặc có phản ứng viêm mạnh có thể tham khảo các thuốc sau:
- Five Chymosin: Hỗ trợ chống viêm dạng enzyme, giảm phù nề, tan máu bầm, giảm dịch viêm và thúc đẩy phục hồi tổn thương.
- Gluco.KC Namic: Hỗ trợ hạ sốt, giảm đau, chống viêm, tăng sức đề kháng, cân bằng điện giải và giảm stress.
Việc sử dụng thuốc chống viêm cần căn cứ vào mức độ sốt, phản ứng viêm và thể trạng của gia súc.
3. Trợ sức, trợ lực: Có thể sử dụng Vitamin C, Vitamin nhóm B, thuốc điện giải, Cafein và các thuốc trợ sức, trợ tim khác. Đồng thời bổ sung thức ăn dễ tiêu hóa, nước sạch và khoáng chất nhằm nâng cao sức đề kháng.
4. Chăm sóc tổn thương ngoài da: Sau khi vệ sinh sạch vùng tổn thương, có thể sử dụng các thuốc sát trùng ngoài da hoặc thuốc hỗ trợ làm khô, thúc đẩy liền vết thương đã được phép lưu hành tại Việt Nam (như dung dịch xanh methylen hoặc các sản phẩm có công dụng tương tự) theo hướng dẫn của nhà sản xuất nhằm hạn chế nhiễm khuẩn kế phát và hỗ trợ quá trình phục hồi tổn thương ngoài da.
5. Bù nước và điện giải: Đối với gia súc sốt kéo dài, bỏ ăn, mất nước, suy nhược hoặc nằm nhiều, căn cứ tình trạng lâm sàng có thể truyền tĩnh mạch dung dịch Glucose 5%, Ringer lactat hoặc các dung dịch truyền phù hợp khác. Đồng thời tăng cường chăm sóc, bổ sung thức ăn dễ tiêu hóa, nước sạch, khoáng chất và vitamin nhằm nâng cao sức đề kháng và hỗ trợ quá trình hồi phục.
Lưu ý: Việc truyền dịch chỉ thực hiện khi có chỉ định của người hành nghề thú y; phải bảo đảm đúng kỹ thuật, đúng loại dịch truyền, đúng tốc độ truyền và theo dõi chặt chẽ gia súc trong suốt quá trình truyền để kịp thời xử lý các phản ứng bất thường (nếu có). Các thuốc nêu trên là những thuốc tham khảo đang được sử dụng trong thực tế; ngoài các thuốc này, có thể sử dụng các thuốc thú y khác có cùng hoạt chất, cùng công dụng và đã được phép lưu hành tại Việt Nam theo hướng dẫn của nhà sản xuất và chỉ định của người hành nghề thú y.
II. LƯU Ý TRONG ÁP DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
1. Chỉ sử dụng thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.
2. Tuân thủ đúng hướng dẫn của nhà sản xuất về liều lượng, đường dùng, thời gian sử dụng và thời gian ngừng thuốc.
3. Không tự ý thay đổi phác đồ điều trị hoặc phối hợp nhiều loại thuốc khi chưa có chỉ định của người hành nghề thú y.
4. Không pha chung nhiều loại thuốc trong cùng một bơm tiêm nếu nhà sản xuất không có hướng dẫn.
5. Thực hiện sát trùng vị trí tiêm, thay kim khi điều trị cho nhiều con gia súc.
6. Theo dõi chặt chẽ gia súc trong và sau khi sử dụng thuốc để kịp thời phát hiện, xử lý các phản ứng bất thường (nếu có).
7. Trường hợp sau 03-05 ngày điều trị không cải thiện cần báo cơ quan chuyên môn thú y.
8. Chỉ mua và sử dụng thuốc thú y tại cơ sở đủ điều kiện kinh doanh.