
Cán bộ Trạm Bảo vệ và kiểm dịch thực vật khu vực II cùng người dân kiểm tra tại đồng ruộng
1. Chăm sóc mạ và lúa sau cấy:
- Trên mạ: Thường xuyên giữ ẩm cho mạ, đặc biệt vào những ngày nắng nóng cần tưới nước thường xuyên, đồng thời có các biện pháp che chắn luống mạ.
- Trên lúa sau cấy: Kiểm tra mật độ cây lúa, cấy dặm nếu có chỗ bị mất lúa hoặc cây bị chết; Duy trì nước trong ruộng từ 2-3cm sau cấy. Rút nước để ruộng khô nẻ chân chim khi lúa cuối đẻ nhánh. Bón lót: Bón 100% phân chuồng, vôi, phân lân + 50% đạm + 20% kali. Bón thúc: Bón thúc lần 1 sau cấy 7-10 ngày, khi lúa bắt đầu bén rễ và hồi xanh. Bón thúc lần 2 khi lúa vào giai đoạn đứng cái - làm đòng.
2. Một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên mạ và lúa sau cấy
Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp(IPM) bao gồm: Biện pháp canh tác, thủ công, sinh học...để phòng trừ hiệu quả, bền vững; chỉ sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết, ít độc với thiên địch nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng.
a. Đối với sâu đục thân
- Biện pháp canh tác và thủ công: Làm đất kỹ trước khi gieo cấy, dọn sạch cỏ dại phát quang bờ ruộng và cầy vùi gốc rạ sớm để diệt nguồn sâu, nhộng từ vụ Xuân chuyển sang; ngắt ổ trứng, thu bắt diệt trưởng thành trên mạ. Nhổ bỏ vùi xuống bùn đối với những dảnh bị sâu gây hại.
- Biện pháp hóa học: Phun tiễn chân mạ trước khi nhổ mạ cấy từ 2-3 ngày để trừ sâu đục thân 2 chấm trên những diện tích mạ và trên lúa cấy có mật độ ổ trứng ≥ 0,5 ổ/m2 , tỷ lệ dảnh bị sâu đục thân gây hại từ hại 5% số dảnh trở lên bằng thuốc Abatox 3.6EC; Abasuper 1.8EC; Chlorferan 240SC; Reasgant 5WG và các thuốc có cùng hoạt chất được đăng ký trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.
b. Đối với Bệnh nấm mốc, Bệnh thối nhũn trên mạ:
Biện pháp thủ công: Thăm ruộng thường xuyên, luôn giữ nước xung quanh luống mạ.
Biện pháp hóa học: Khi phát hiện có hiện tượng nấm bệnh gây hại. Tiến hành té nước rửa nấm mốc trên luống mạ sau đó có thể sử dụng một số loại thuốc sau để phun: Tilt super 300 ND, Anvil 5SC,…
Lưu ý: Phun ướt đều trên mặt lá, gốc và thân cây mạ. Nồng độ liều lượng thuốc xem trên nhãn bao bì. Trường hợp bệnh nặng phải phun kép 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày. 

Cán bộ Trạm Bảo vệ và kiểm dịch thực vật khu vực II cùng người dân kiểm tra tại đồng ruộng
c. Bệnh khô đầu lá mạ Bệnh do cây mạ sốc nhiệt với thời tiết, bốc hơi phèn...kết hợp nấm bệnh xâm nhiễm gây ra.
Biện pháp phòng trừ: tiếp tục theo dõi, chăm sóc kết hợp xử lý bằng các loại thuốc nấm như: Anvil 5sc, Tilt super 300ND, Amistatop...
d. Đối với ốc bươu vàng:
- Ốc bươu vàng gây hại chủ yếu ở giai đoạn mới cấy đến đẻ nhánh; ốc thường tập trung gây hại tại các ruộng trũng, gần kênh mương và suối, hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối; ốc gây hại thường cắn ngang thân cây lúa, ăn trụi thành từng đám, gây mất khoảng, giảm mật độ trên đồng ruộng, có thể gây mất trắng diện tích nếu không được phòng trừ kịp thời.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Trước khi gieo cấy cần tiến hành vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại, khơi rãnh xung quanh ruộng để ốc tập trung vào rãnh và thu bắt ốc bằng tay; ở đầu các dòng nước chảy sử dụng phên hoặc lưới chắn 3 lớp để ngăn không cho ốc xâm nhập vào ruộng gây hại.
+ Khi mật độ ốc bươu vàng từ 3-5 con/m2 trở lên có thể sử dụng một trong các loại thuốc đăng ký trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam để phun trừ, như: Pazol 700WP; Dioto 250 EC; Clodansuper 700WP,... nồng độ, liều lượng phun theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm.
Lưu ý: Những nơi mật độ ốc cao >3 con/m2 nên phun thuốc 02 lần: Lần 1 phun trước khi gieo sạ hoặc trước khi cấy từ 3-5 ngày; lần 2 phun ngay sau khi gieo sạ hoặc cấy; khi phun cần giữ mực nước trên ruộng 2-3 cm.


e. Bệnh vàng lá, nghẹt rễ sinh lý lúa sau cấy.
- Triệu trứng: Khi bệnh mới phát sinh ngọn lá úa vàng, đầu lá khô đỏ, trên lá thường xuất hiện những vết đốm màu nâu, biểu hiện trên lá già trước. Bệnh nặng, cây lúa ngừng sinh trưởng, đẻ nhánh kém, bộ rễ thối đen có mùi tanh hôi, ít rễ trắng, ruộng lúa sẽ bị chết từng chòm, có khi chết cả ruộng.
- Nguyên nhân: Do đất thiếu oxi, gây tình trạng yếm khí. Hiện tượng này thường xảy ra khi bón nhiều phân hữu cơ chưa hoai mục, ruộng có rơm rạ, tàn dư thực vật chưa hoai mục, đất ruộng có thành phần cơ giới nặng, đất không được phơi ải, đất ngập nước thường xuyên, ruộng bị chua… Khi đó trong đất tích tụ nhiều khí độc như mêtan (CH4), khí Sunfuahydro (H2S) và một số loại đất có “váng màu gạch cua” tồn tại các ion sắt (Fe+2); nhôm (AL+3) di động.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Làm đất, cày bừa kỹ trước khi gieo cấy; sử dụng các chế phẩm sinh học như: Chế phẩm Trichoderma, AT Bio-Dercomposer, Sumitri... để thúc đẩy phân giải rơm rạ, tàn dư thực vật chưa hoai mục và kết hợp với bón thêm vôi từ 15-20kg vôi bột/sào và từ 20-30 kg/sào đối với ruộng lầy thụt, ruộng ngập úng.
+ Khi lúa đã bị bệnh: Ngừng bón đạm, tiến hành tháo cạn nước, bón thêm vôi bột và phân lân nung chảy, mỗi loại từ 10 - 15 kg/sào kết hợp làm cỏ, sục bùn để giải phóng bớt khí độc trong đất, nhất là vùng rễ của cây lúa; sau khi lúa hồi phục sử dụng phân bón qua lá để phun bổ sung như: Đầu trâu 502, Siêu lân, Komic, Amino humic, Trichoderma AT... để giúp cây phục hồi nhanh, sinh trưởng phát triển tốt.
f. Chuột: Gây hại ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa; chuột thường gây hại cục bộ. Khi phát hiện chuột gậy hại cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:
+ Biện pháp thủ công: Bẫy cơ học bao gồm các loại bẫy lồng, bẫy sập, bẫy lăn;
+ Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc Klerat 0,05 %, Fowarat 0,05 %, Rai K2 % D, Biorat... theo hướng dẫn trên bao bì.
Ngoài các đối tượng gây hại trên cần lưu ý các loại sâu bệnh hại khác trênlúa sau cấy như: Tập đoàn rầy, ruồi, sâu cuốn lá nhỏ...
Trong thời gian tới, Trung tâm Dịch vụ công xã Yên Phú sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với Trạm Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật khu vực II tăng cường kiểm tra đồng ruộng, theo dõi chặt chẽ diễn biến của sâu bệnh để tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân phòng trừ kịp thời.
Trung tâm Dịch vụ công xã Yên Phú