1. Biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu, bệnh trên các loại cây trồng
1.1. Trên cây lúa
- Đối với diện tích lúa đã thắt eo, dảnh cái có đòng non: Khẩn trương hướng dẫn bón phân đón đòng, bón đầy đủ, cân đối đạm và kali để cây trỗ tập trung, tăng khả năng chống chịu sâu, bệnh.
- Đối với trà lúa Mùa muộn: Bón phân cân đối, chăm sóc tốt để cây sinh trưởng khỏe, làm đòng tập trung và tăng sức chống chịu với thời tiết cực đoan. Phòng trừ các đối tượng dịch hại
a) Sâu cuốn lá nhỏ:
- Trên trà lúa Mùa sớm, chính vụ (đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái - làm đòng): Dự kiến sâu non lứa 5 nở rộ và gây hại từ ngày 27/7/2026 đến ngày 04/8/2026, mật độ phổ biến 10 - 20 con/m², nơi cao 30 - 40 con/m², cục bộ trên 50 con/m².
- Trên trà lúa Mùa muộn (đoạn đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ): Dự kiến sâu non lứa 5 nở từ ngày 01/8/2026 đến 15/8/2026, nở rộ từ ngày 03/8/2026 đến 10/8/2026, mật độ phổ biến 20 - 30 con/m², nơi cao 40 - 50 con/m², cục bộ trên 80 con/m².
+ Biện pháp phòng trừ: Sử dụng một trong các loại thuốc để phòng trừ như sau: Incipio 200SC, EminGold 160SC, Obaone 95WG, TT Bite 30SC, Ammate 150EC, Clever 150SC, Sunset 150SC, Indogold 150SC, August 350WG, Chlorferan 240SC, Director 70EC ... hoặc các thuốc có cùng hoạt chất. Sau phun 3 - 5 ngày, kiểm tra lại ruộng, nếu mật độ sâu vẫn cao thì tiến hành phun nhắc lại lần 2.
b) Rầy nâu, rầy lưng trắng:
- Dự kiến rầy cám lứa 5 nở rộ từ ngày 27/7/2026 đến ngày 04/8/2026 trên trà lúa đẻ nhánh - đứng cái - làm đòng, mật độ phổ biến 300 - 500 con/m², nơi cao 1.000
- 2.000 con/m², cục bộ ổ trên 3.000 con/m². Nếu không phòng trừ kịp thời sẽ gây vàng lá.
+ Biện pháp phòng trừ: Kiểm tra đồng ruộng phát hiện sớm ổ rầy (đặc biệt là giai đoạn chắc xanh, chín sáp); tổ chức phòng trừ khi mật độ rầy từ 25 con/khóm (1.000 - 2.000 con/m²). Sử dụng các loại thuốc lưu dẫn như: Actara® 25WG, Chess® 50WG, Sutin 5EC, Chersieu 50WG, Nouvo 3.6EC... Đối với những diện tích lúa đang làm đòng có thể sử dụng các loại thuốc tiếp xúc như: Bassa 50EC, Butyl 10WP, Applaud 25WP, Florid 700WP, Nibas 50EC, Virtako® 40 WG… và một số các loại thuốc có cùng hoạt chất phun trực tiếp vào gốc lúa nơi rầy tập trung gây hại, giữ mực nước ruộng 2 - 3 cm để đạt hiệu quả trừ rầy cao. Những diện tích có mật độ rầy còn cao sau phun thuốc lần 1 từ 3 - 5 ngày phải tổ chức phun thuốc nhắc lại lần 2.
c) Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn:
Khi phát hiện ruộng bị bệnh cần giữ nước trên ruộng từ 2 - 3 cm, ngừng bón phân hoá học, phân bón qua lá, các chất kích thích sinh trưởng. Biện pháp phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc đặc hiệu theo danh mục được phép để phun phòng trừ như: Sasa 25WP, Avalon 8WP, Anti-xo 200WP... Phun vào chiều mát, tránh phun
buổi sáng sớm khi còn nhiều sương. Nếu bệnh nặng, phun kép 2 lần (lần 2 cách lần 1 từ 5 - 7 ngày).
d) Bệnh thối nhũn (thối thân):
- Bệnh gây hại nặng trên các chân ruộng bị ngập, úng. Khi ruộng bị nhiễm bệnh, tháo nước trong ruộng ra càng sớm càng tốt, rắc vôi bột từ 6-8 kg/sào hoặc phun nước vôi trong (1,5 kg vôi toả với 20 lít nước khuấy đều để lắng sau đó lấy nước trông phun lên toàn bộ cây lúa). Sử dụng một trong các loại thuốc sau để trừ bệnh: Agrilife 100 SL; Sapol 700WP; Anti-xo 200WP; Xanthomix 20 WP... và các loại thuốc có cùng hoạt chất.
- Ngoài ra, tại các vùng cao có nhiều mưa, thời gian chiếu sáng ngắn cần lưu ý phòng trừ bệnh đạo ôn trên các trà lúa đang làm đòng - trỗ
+ Đồng thời, theo dõi và chủ động phòng trừ các đối tượng dịch hại khác như:
Sâu đục thân, nhện gié, bệnh lùn sọc đen và chuột hại lúa; tăng cường bắt ốc 3 bươu vàng thủ công, thu gom ổ trứng; duy trì các biện pháp diệt chuột cộng đồng an toàn, hiệu quả.
1.2. Đối với cây ngô và rau màu khác
Tỉa dặm, làm cỏ, vun gốc kết hợp bón thúc lần 1 khi ngô có 3 - 5 lá; bón thúc lần 2 khi ngô có 7 - 9 lá. Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ cỏ, nhất là khu vực gần nguồn nước.
a) Sâu keo mùa thu trên ngô: Khi mật độ sâu non từ 3 - 4 con/m2 hoặc tỷ lệ hại trên 20% số cây tiến hành phun thuốc phòng trừ. Sử dụng một trong các loại thuốc sau để trừ: Voliam targo® 063SC, Bitadin WP, Proclaim® 5WG, Match® 050EC, Radiant 60SC hoặc các loại thuốc khác cùng hoạt chất.
b) Bệnh thối thân do vi khuẩn trên ngô, rau màu: Nhổ bỏ những cây bị bệnh, sử dụng một trong các loại thuốc sau để phun: Agrilife 100 SL; Sapol 700WP; Anti- xo 200WP; Xanthomix 20 WP...
c) Bệnh khô vằn trên ngô: Phát sinh gây hại tăng từ giai đoạn ngô xoáy nõn đến chín sữa. Sử dụng một trong các loại thuốc sau để phun: Trobin 250SC; BCthizamide 240SC; Anvil® 5 SC; Physan 20SL... * Lưu ý: Khi cây trồng bị nhiễm bệnh, cần ngừng ngay việc bón phân đạm và tuyệt đối không kết hợp phân bón qua lá với thuốc trừ bệnh. Chỉ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong Danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam; tuân thủ đúng nồng độ, liều lượng theo hướng dẫn trên nhãn mác và bảo đảm thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc '4 đúng' khi phun trừ.
1.3. Đối với cây ăn quả (cam, bưởi)
a) Ruồi vàng và ngài mắt đỏ: Từ tháng 8 đến tháng 9 ruồi vàng và ngài mắt đỏ sẽ gia tăng mật độ trong vườn, gây hại mạnh trên quả. Biện pháp phòng trừ: Phát quang bụi rậm quanh vườn; thu gom tiêu hủy quả rụng, thối hỏng. Dùng chế phẩm dẫn dụ (Vizubon-D, Ento-Pro 150SL, Acdruoivang 900OL...); tẩm thuốc trừ sâu ít mùi (Actara 25WG, Gà nòi 95SP... 1%) vào hoa quả chín đặt đều trong vườn. Bẫy cơ học: Dùng bẫy dính màu vàng 2 mặt diệt ruồi vàng; dùng bẫy đèn UV diệt ngài mắt đỏ. (Lưu ý: Sử dụng các biện pháp bẫy bả, bẫy dính, bóng đèn UV nên tiến hành đồng loạt cùng thời gian trên cả vùng để hạn chế nơi trú ẩn của ruồi vàng và ngài mắt đỏ, nhằm đạt hiệu quả cao trong phòng trừ).
b) Bệnh đốm đen gây hại quả: Bệnh do nấm gây ra ở trên vỏ quả cam, bưởi; bệnh bắt đầu xuất hiện các vết đốm ở khắp bề mặt quả từ cuối tháng 5, phát sinh và gây hại mạnh từ tháng 7 đến đầu tháng 9 sau các đợt mưa. Quả bị bệnh nặng chuyển màu vàng, gây ra hiện tượng chín ép. Nguồn bệnh chủ yếu từ tàn dư cành, lá, quả vụ trước; gặp nhiệt độ, độ ẩm cao, bào tử nấm phát tán và xâm nhập gây hại quả non. Phòng trừ: Vệ sinh vườn, thu gom tiêu hủy cành/lá/quả bệnh; cắt tỉa tạo tán thông thoáng, tỉa bỏ quả nhỏ, dị hình; bón phân cân đối (không bón thừa đạm). Khi bệnh xuất hiện, phun phòng trừ kịp thời bằng một trong các thuốc: Ridomil Gold 68WG, Aliette 80WP, Score 250EC, Daconil 75WP, Alpine 80WP... hoặc thuốc có cùng hoạt chất.
c) Bệnh sẹo: Bệnh phát sinh mạnh sau các đợt mưa kéo dài, nhiệt độ 25 - 30 độ C, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho nấm gây bệnh sẹo phát triển. Khi cây bị nhiễm bệnh sử dụng một trong các loại thuốc sau để phun: Anvil® 5SC; Daconil 75WP; Arygreen 75 WP; Kaiser 250EC; Kaisin 100WP;... hoặc các loại thuốc khác cùng hoạt chất trên có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, phun khi bệnh mới xuất hiện, vết cấp (bệnh hại nặng phun kép 2 lần, mỗi lần cách nhau từ 5 - 7ngày)
d) Bệnh loét do vi khuẩn: Khi cây bị nhiễm bệnh, cắt bỏ các cành lá, quả bị nhiễm nặng đem tiêu hủy. Bón phân cân đối, tạo cây khỏe, ra lộc tập trung, loại bỏ các cành vượt. Khi bệnh chớm xuất hiện sử dụng một trong các loại thuốc: Liberty100WP, Kaisin 100WP, Actinovate 1 SP, Anti-xo 200WP…hoặc các loại thuốc cùng hoạt chất (Bệnh hại nặng nên phun kép 1- 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày).
e) Bệnh thán thư: Bệnh gây hại trên lộc và quả non, khi bệnh mới xuất hiện dùng một trong các loại thuốc: Bisomin 2SL, 6WP; Grahitech 2SL, 4WP;Kamsu 2SL, 8WP; Actinovate 1SP, Score 250EC, Daconil 75WP, 500SC;Manozeb 80WP, Antracol 70WP, 70WG... hoặc các loại thuốc khác cùng hoạt chất (Bệnh hại nặng nên phun kép 1 - 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày).
g) Bệnh vàng lá thối rễ, xì mủ: Do nấm gây hại mạnh tại các vườn rậm rạp, thoát nước kém. Biện pháp: Cắt tỉa thông thoáng, xới nhẹ phá váng mặt đất và đào rãnh thoát nước chống úng. Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục ủ nấm Trichoderma kết hợp phân bón lá giàu Lân, Kali để cải tạo đất và phục hồi cây. Khi xuất hiện bệnh, phun/tưới gốc bằng một trong các thuốc: Aliette 800WG, Alpine 80WP, Ridomil Gold 68WG, Mancozeb 80WP... (nếu nặng, phun kép 2 lần cách nhau 5 - 7 ngày).
Trung tâm Dịch vụ công xã Yên Phú