
Infographic về công tác phòng, chống HIV/AIDS, tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030 trên địa bàn xã Yên Phú
Các giải pháp chủ yếu:
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
- Cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội xã tiếp tục phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS.
- Các tổ chức đoàn thể, các cơ quan, đơn vị tham mưu cho cấp ủy Đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, xác định công tác phòng, chống HIV/AIDS là một nội dung trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị, là tiêu chí để đánh giá hoạt động của tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, đảng viên trong xây dựng thôn, gia đình văn hóa. Tiếp tục ưu tiên đầu tư cho phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với tình hình dịch bệnh và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương.
- Tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS. Rà soát, bổ sung chương trình, quy chế, kế hoạch phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS theo hướng đồng bộ, thống nhất với công tác phòng, chống ma túy, mại dâm.
- Đẩy mạnh công tác quản lý việc tổ chức thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn xã; xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS; định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá thi đua, khen thưởng kết quả thực hiện của các cơ quan, đơn vị.
2. Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với tình hình thực tế tại mỗi cơ quan đơn vị
- Tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức, viên chức và các tầng lớp Nhân dân về các kết quả quan trọng của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian qua và những khó khăn, thách thức của công tác phòng, chống HIV/AIDS trong thời gian tới, đặc biệt là tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại gia đình, cộng đồng, nơi học tập, làm việc; hiểu rõ mục tiêu chấm dứt bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030 là “Khi số người nhiễm HIV được phát hiện mới đạt mức dưới 1.000 trường hợp/năm 2030; tỷ lệ người nhiễm HIV tử vong liên quan đến HIV/AIDS dưới 1,0/100.000 dân; tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới mức 2% trước năm 2030.
- Kết hợp tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS với thông tin kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS và các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, các biện pháp giảm kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến nhiễm HIV; biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá
nhân tiêu biểu điển hình có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, tạo sức lan toả trong Nhân dân.
- Tiếp tục đổi mới, đa dạng hoá các hình thức thông tin, giáo dục, tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS: (1) truyền thông đại chúng, truyền thông qua thông tin cơ sở: Tăng cường phát thanh các chuyên mục tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS, xây dựng, đăng tải các video clip, biểu ngữ cổ động, tuyên truyền trên các báo điện tử, các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống cơ sở truyền thanh tại các thôn; (2) truyền thông trên nền tảng công nghệ số: ứng dụng AI, trí tuệ nhân tạo trong việc sản xuất, xây dựng các video, hình ảnh, nội dung tuyên truyền, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS theo tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; tiếp tục sản xuất, đăng tải các video, thông tin để tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội; (3) truyền thông qua các hoạt động khác: Lồng ghép trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cộng đồng và các thiết chế văn hóa công sở. Lồng ghép phòng, chống HIV/AIDS với tuyên truyền về bình đẳng giới, giáo dục sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản; giáo dục gia đình.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống thông tin cơ sở, huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, người nổi tiếng, người đứng đầu các cộng đồng dân cư, các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng, người nhiễm HIV, nhóm người hành vi nguy cơ cao tham gia công tác truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS. Lồng ghép, phối hợp hiệu quả các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, thôn văn hóa, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; kịp thời biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.
- Tiếp tục nâng cao kiến thức về giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại gia đình, cộng đồng, nơi học tập, nơi làm việc. Triển khai các giải pháp đồng bộ để giảm kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV tại cơ sở y tế. Khuyến khích sự tham gia của các nhóm cộng đồng, người nhiễm HIV vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát việc thực hiện các hoạt động giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV.
3. Giải pháp về cơ chế, chính sách
- Tiến hành rà soát, bổ sung thực hiện đúng chính sách pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế của xã. Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn chuyên môn của cấp trên về phòng, chống HIV/AIDS và cơ chế, chính sách, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về phòng chống HIV/AIDS phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội trong tình hình mới.
- Chủ động bố trí kinh phí trong khả năng cân đối ngân sách địa phương và lồng ghép các nguồn kinh phí hợp pháp khác cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong giai đoạn 2026-2030, trong đó tập trung cho các hoạt động truyền thông, dự phòng lây nhiễm HIV, giám sát dịch, xét nghiệm, điều trị HIV, can thiệp cho nhóm đối tượng ưu tiên theo quy định của Luật phòng, chống HIV/AIDS, tăng cường sử dụng BHYT trong khám, chữa bệnh HIV/AIDS nhằm đảm bảo 100% người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế; đảm bảo kinh phí mua thuốc, vật tư, sinh phẩm cho các hoạt động can thiệp giảm lây nhiễm HIV trong nhóm đối tượng nguy cơ cao lây nhiễm HIV; đảm bảo kinh phí mua thuốc Methadone.
- Trong năm 2026 ban hành kế hoạch/phương án đảm bảo tài chính thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 và sử dụng có hiệu quả kinh phí được phân bổ.
- Tăng cường sự tham gia, đóng góp của các cá nhân, tổ chức, khu vực tư nhân vào việc đầu tư và cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi để huy động sự tham gia bền vững của các tổ chức chính trị xã hội trong cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS.
- Tiếp tục triển khai chính sách trợ cấp xã hội cho trẻ nhiễm HIV, người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
- Hỗ trợ vật chất, tinh thần cho người nhiễm HIV và gia đình họ để người nhiễm HIV ổn định cuộc sống, hòa nhập và được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng; bảo đảm sự công bằng và bình đẳng trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

4. Tổ chức triển khai hiệu quả công tác chuyên môn, kỹ thuật về phòng, chống HIV/AIDS
4.1. Mở rộng, đổi mới các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV
- Tập trung triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm có nguy cơ nhiễm HIV cao, người sử dụng ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới, người chuyển giới nữ, phụ nữ bán dâm và bạn tình, bạn tiêm chích của người nhiễm HIV…
- Đa dạng hóa các mô hình cung cấp bao cao su và bơm kim tiêm miễn phí phù hợp với nhu cầu của người sử dụng, kết hợp với mở rộng cung cấp bao cao su, bơm kim tiêm qua kênh thương mại.
- Đổi mới và nâng cao chất lượng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Mở rộng các mô hình điều trị, cấp phát thuốc tại tuyến cơ sở; thí điểm và nhân rộng mô hình cấp phát thuốc điều trị mang về nhà theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế. Triển khai can thiệp cho người sử dụng ma túy tổng hợp và người sử dụng đa ma túy.
- Triển khai các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV phù hợp trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc.
- Triển khai điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV (PrEP) cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Tiếp tục điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV bằng thuốc ARV (PEP).
- Cung cấp dịch vụ khám và điều trị phối hợp các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV
4.2. Giải pháp về tư vấn xét nghiệm HIV
- Đa dạng hóa dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV. Đẩy mạnh xét nghiệm HIV trong cơ sở y tế, mở rộng xét nghiệm HIV tại cộng đồng, xét nghiệm HIV lưu động và triển khai hình thức tự xét nghiệm HIV.
- Triển khai các mô hình tư vấn xét nghiệm HIV phù hợp với từng nhóm nguy cơ cao lây nhiễm HIV; mở rộng triển khai xét nghiệm HIV cho bạn tình, bạn tiêm chích của người nhiễm HIV, xét nghiệm cho phụ nữ mang thai.
- Đẩy mạnh các biện pháp để chuyển gửi thành công người nhiễm HIV từ dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV đến dịch vụ chăm sóc, điều trị HIV.
- Ứng dụng các kỹ thuật, sinh phẩm xét nghiệm mới, phương pháp lấy mẫu mới trong chẩn đoán HIV, xác định những người có hành vi nguy cơ cao để triển khai các biện pháp can thiệp phù hợp phòng lây nhiễm HIV.
4.3. Giải pháp về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV
- Tăng cường tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai; chẩn đoán sớm, quản lý và điều trị cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV.
- Tăng cường dự phòng, phát hiện và điều trị các bệnh đồng nhiễm với HIV, bao gồm lao, viêm gan B, viêm gan C và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS: Thực hiện hướng dẫn chăm sóc và điều trị HIV/AIDS theo quy định; bảo đảm điều trị an toàn, hiệu quả; tăng cường quản lý, theo dõi và hỗ trợ tuân thủ điều trị HIV/AIDS. Cải thiện chất lượng điều trị HIV/AIDS, lồng ghép vào hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện; tăng cường xét nghiệm theo dõi điều trị HIV/AIDS.
- Tăng cường các hoạt động dự phòng và giám sát HIV kháng thuốc; theo dõi, đánh giá và ngăn chặn các phản ứng có hại của thuốc ARV; lồng ghép theo dõi cảnh báo sớm HIV kháng thuốc vào quản lý chất lượng điều trị HIV/AIDS.
4.4. Giải pháp về giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá và nghiên cứu khoa học
- Thu thập, tổng hợp số liệu hoạt động phòng, chống HIV/AIDS định kỳ; nâng cao chất lượng và sử dụng số liệu cho xây dựng chính sách, kế hoạch, đánh giá hiệu quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
- Thiết lập hệ thống giám sát ca bệnh từ khi xác định nhiễm HIV cho đến tham gia điều trị, chuyển đổi cơ sở điều trị, chất lượng điều trị, tuân thủ điều trị và tử vong (nếu xảy ra) đối với từng người nhiễm HIV. Tiếp tục áp dụng kỹ thuật chẩn đoán nhiễm mới trong giám sát phát hiện, điều trị và ước tính nguy cơ lây nhiễm HIV
trong nhóm có hành vi nguy cơ cao, đặc biệt là nhóm MSM.
- Tăng cường phổ biến, chia sẻ và sử dụng hiệu quả dữ liệu, thông tin cho hoạt động chương trình phòng, chống HIV/AIDS. Chủ động giám sát, theo dõi và dự báo kịp thời tình hình dịch HIV/AIDS tại xã.
- Triển khai các nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong triển khai các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS.
4.5. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
Tiếp tục mở rộng và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cảnh báo sớm, kiểm soát, quản lý người nhiễm HIV, điều trị HIV/AIDS, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Tăng cường trao đổi dữ liệu giữa phòng, chống HIV/AIDS với hệ thống thông tin y tế, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và
bảo hiểm y tế.
5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS
- Tiếp tục huy động sự vào cuộc và phát huy vai trò của y tế tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng, mạng lưới người nhiễm HIV, người có hành vi nguy cơ cao tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS; khuyến khích thành lập các tổ, đội, nhóm, nhằm tổ chức, thực hiện, phối hợp trong các hoạt động theo đúng pháp luật, có sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước về điều kiện hoạt động; Tăng cường tập huấn, nâng cao kiến thức cho các nhóm đối tượng này.